Lê Dụ Tông (1705 - 1729) là vị vua thứ 22 của nhà Hậu Lê, ít người biết về cuộc đời và quãng thời gian làm hoàng đế của ông có những dấu ấn thú vị đáng nhớ, chứ không phải chỉ là những thông tin về việc hoàn táng di hài của ông mà báo chí vừa qua đã đề cập tới.

Lê Dụ Tông tên thật là Lê Duy Đường, con trưởng của Lê Hy Tông, ông sinh tháng 10 năm Canh Thân (1680), mất tháng 1 năm Tân Hợi (1731), thọ 51 tuổi. Ông làm vua 24 năm (1705 - 1729) rồi nhường ngôi để làm thượng hoàng 2 năm (1729 - 1731) với những điều lý thú sau đây:

* Ngay sau khi lên ngôi, Lê Dụ Tông đã cho đại xá, đây là lần đại xá rất rộng rãi: “Tha hai phần mười (2/10) thuế vụ hạ năm nay cho dân, những thuế bỏ thiếu từ năm Quý Mùi trở về trước đều được ân xá; những dân phiêu lưu ở Thanh Nghệ và tứ trấn được phép đến cửa khuyết tâu bày tình trạng, sẽ liệu lượng cho giảm phú thuế lao dịch” (Khâm định Việt sử thông giám cương mục).

* Lê Dụ Tông là vị vua đầu tiên định rõ lại phép khảo công theo chỉ dụ ban hành tháng 2 năm Đinh Hợi (1707): “Trong ba năm, quan chức đều phải đủ ba lần khảo theo thể lệ thưởng, trung, hạ, rồi sẽ cân nhắc với nhau: người nào ba lần khảo đều liệt vào thượng hạng sẽ được thăng chức hai bậc, người nào hai lần thượng hạng, một lần trung hạng, được thăng chức một bậc, những người này đều được thưởng thêm 50 quan tiền; người nào năm đầu vào thượng hạng, năm thứ nhì vào trung hạng, năm thứ ba vào hạ hạng, là loại trung bình, sẽ thuyên chuyển làm việc ở địa phương giản khuyết; người nào hai lần trung hạng, một lần hạ hạng, sẽ phải giáng chức một bậc; người nào hai lần hạ hạng, một lần trung hạng, phải giáng chức hai bậc” (Khâm định Việt sử thông giám cương mục).

* Cũng trong tháng 2 năm Đinh Hợi (1707), vua Lê Dụ Tông định lệnh truy tặng và ân tuất cho tướng sĩ bị chết trận. Đây là quy đầu tiên được ban hành từ khi triều Lê Trung Hưng thành lập, sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục viết: “Từ lúc Trung Hưng đến nay, chưa định thể lệ truy tặng và ân tuất cho tướng sĩ bị chết trận. Đến nay bàn định: cai đội và đội trưởng chết trận truy tặng cho hàm hiệu điểm và được cấp ruộng; binh đinh bị chết trận được cấp ruộng và tha lao dịch cho con của họ”.

* Lê Dụ Tông là vị vua đầu tiên sai quan trong kinh thành đi đôn đốc việc đắp đê, lệnh này ban hành vào tháng giêng năm Tân Mão (1711). Sử chép: “Trước đây, việc đốc thúc dân đắp đê, giao quyền cho viên quan ở trấn, phần nhiều chỉ làm cẩu thả cho xong việc, nên mỗi năm đến mùa nước lũ, đê lại vỡ lở, dân vùng ven sông luôn luôn bị tai hại. Đến nay mới hạ lệnh cho quan trong kinh là bọn Lê Dị Tài và Trần Công Trụ chia nhau đi đôn đốc. Công việc sửa đắp đê sau đấy thêm bận rộn hơn” (Khâm định Việt sử thông giám cương mục).

* Lê Dụ Tông là vị vua đầu tiên ban lệnh cấm tự tiện lập trang trại, lý do là “những nhà quyền quý thế hào, phần nhiều nhận ruộng đất của mình ở đâu thiện tiện lập trang trại ở đấy, rồi chiêu tập người trốn tránh, cho họ nấp bóng để vơ vét mối lợi, vì thế mà dân xã nhiều người phiêu tán.

Đến nay nhiêm cấm, người nào trái lệnh sẽ phải luận vào tội nặng. Còn những người phiêu lưu trú ngụ ở xã khác, khai khẩn nhờ vào đất hoang xã ấy, hiện đã dựng thành cơ nghiệp, thì chỗ đất khai khẩn ấy xét định cho làm thổ, để họ được yên nghiệp sinh nhai” (Khâm định Việt sử thông giám cương mục). Lệnh cấm này ban hành năm Tân Mão (1711).

* Trước thời Lê Dụ Tông, các triều đại đã có những hình thức cứu giúp dân nghèo, dân gặp nạn thiên tai, địch họa nhưng đến tháng giêng năm Quý  Tỵ (1713) dưới thời trị vì của ông mới định rõ thi hành việc phát chẩn và cấp đỡ cho dân. Theo đó triều đình phép các quan hoặc dân nộp thóc, tùy số lượng mà trao cho chức tước hoặc phẩm hàm, rồi đem số thóc ấy phân phối phát chẩn cho dân nghèo. Bên cạnh đó triều đình cho trích tiền công để nội phủ phát chẩn cho dân kinh kỳ; trích tiền ở các trấn trợ cấp cho dân các vùng bị nạn tại trấn đó và tùy tình hình mà “cân nhắc để xá tô thuế cho dân ở tứ trấn và ở Phụng Thiên, Trường Yên, nơi nhiều nơi ít khác nhau” (Sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục).

* Lê Dụ Tông là vua xin phong tước muộn nhất, nếu như về đối ngoại với chính sách mềm dẻo, những người mới lên ngôi thường sai sứ sang phương Bắc báo tin và xin sắc phong thì Lê Dụ Tông lại không như vậy. Vua lên ngôi năm Ất Dậu (1705) nhưng đến tận tháng 4 năm Mậu Tuất (1718) mới sai sứ thần sang nhà Thanh xin phong tước.

* Việc đề thi được dùng thống nhất trên toàn quốc lần đầu được thực hiện vào năm Canh Tý (1720) dưới thời Lê Dụ Tông. Trước đó “theo chế độ cũ, trường thi hương ở các trấn đều do quan trường ra đầu bài”, đến tháng 10 năm này triều đình “hạ lệnh cho bầy tôi có văn học nghĩa soạn đầu bài thi ở trong phủ, rồi cho chạy trạm phân phát cho các trường. Còn hai trường thi Thanh và Nghệ vì địa thế xa, nên vẫn theo chế độ cũ... Việc này định thành thể lệ” (Sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục).

* Lê Dụ Tông chính là vị vua đã xuống chiếu bãi bỏ một trong những hình phạt thảm khốc nhất của luật pháp phong kiến, đó là hình phạt chặt ngón tay. Lệnh này ban ra tháng giêng năm Tân Sửu, năm thứ  2 (1721). 

Sử chép: “Theo luật quốc triều (triều Lê), pháp luật thường hành có 5 hình danh. Gần đây hình phạt chặt ngón tay, dùng phép quá nặng. Bèn hạ lệnh: Những phạm nhân bị luận vào tội chặt ngón tay rồi đày (lưu) đi một nơi, nay đều giảm xuống làm tội đồ cư tác, niên hạn định theo tội phạm năng hay nhẹ: phạm nhân phải luận vào tội chặt hai tay và lưu đi viễn châu, nay đổi làm tội đồ cư tác chung thân; phạm nhân phải luận vào tội chặt một tay và lưu đi ngoại châu, nay đổi làm tội đồ cư tác 12 năm; phạm nhân phải luận vào tội chặt 2 ngón tay và lưu đi cận châu, nay đổi làm tội đồ cư tác 6 năm. Những người phạm tội trộm, cướp không theo thể lệ này” (Khâm định Việt sử thông giám cương mục).
s
Thi hài vua Lê Dụ Tông được đưa về hoàn táng tại Thọ Xuân (Thanh Hóa)
* Trong các khoa thi Nho học thời xưa chưa có sự phân định theo mức điểm mà mức điểm cho mỗi kỳ thi lần đầu tiên được quy định vào năm Tân Sửu (1721) đời Lê Dụ Tông. Theo đó kỳ một thí sinh phải đạt từ 8 điểm trở lên, kỳ hai phải đạt 7 điểm trở lên và kỳ ba, kỳ bốn phải đạt từ 5 điểm trở lên. Nguyên tắc chung là mỗi kỳ thi phải qua hai lần chấm sơ khảo và phúc khảo; đủ điểm kỳ một mới được thi kỳ hai, rồi kỳ ba, kỳ bốn cũng theo lệ đó.

* Việc dạy và học võ ở các đời trước chủ yếu là tự phát, đến năm Tân Sửu (1721) đời Lê Dụ Tông lần đầu tiên việc dạy và học võ chính quy được chú trọng với việc triều đình cho lập Võ học sở (tức trường học võ) dạy cả lý thuyết và thực hành (võ nghệ, võ kinh) do các quan Giáo thụ truyền thụ. Đến tháng 8 cùng năm, nội dung học và phép thi võ đã được ban hành như hàng tháng tổ chức thi (gọi là tiểu tập), mỗi quý thi một kỳ vào tháng giữa của quý đó (gọi là đại tập), hàng năm, vào mùa thu mùa xuân tập võ nghệ; mùa đông mùa hạ học võ kinh… Năm Quý Mão (1723), ban hành quy chế thi cử, theo đó cứ 3 năm mở 1 kỳ thi, lấy các năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu thi Sở cử; các năm Thìn, Tuất, Sửu, Mùi thi Bác cử. Thi Sở cử là kỳ thi tổ chức ở các trấn, chọn người đỗ cho dự thi ở Kinh. Thi Bác cử là kỳ thi tổ chức ở Kinh đô… Đây có thể coi là sự khởi đầu cho việc học và thi võ cử ở nước ta. 

* Lê Dụ Tông là vị vua đầu tiên cho phép quân lính được tự do tham dự các kỳ thi nho học và võ học chứ không cấm đoán hoặc hạn chế như các triều vua trước. Theo đó vào năm Nhâm Dần (1722) vua “bắt đầu hạ lệnh cho các quân nhân người nào có học thức, được dự thi hương. Hạ lệnh: Các hạng binh lính, người nào có học thức, khi gặp khoa thi hương được nộp đơn xin thi đợi xét, nếu xét quả là người thông hiểu nghĩa lý văn chương, sẽ được phép cùng với học trò ứng thí, nếu gặp khoa thi võ và kỳ thi viết chữ, tính toán, cũng được phép thi khảo ở ngay kinh đô” (Khâm định Việt sử thông giám cương mục).

* Lê Dụ Tông là vua đầu tiên đặt lệ  học điền để khuyến khích việc giáo dục, đào tại các địa phương với một chiếu lệnh ban hành năm Quý Mão (1723). Sử chép: “Bắt đầu cấp ruộng cho các trường học. Trước đây đã đặt trường học nhưng chưa cấp học điền. Nay bàn định: Trường quốc học cấp cho 60 mẫu; trường hương học, phủ lớn, cấp cho 20 mẫu, phủ vừa 18 mẫu, phủ nhỏ 16 mẫu, để lấy hoa lợi ruộng ấy chỉ dùng vào dầu đèn” (Khâm định Việt sử thông giám cương mục).

* Năm Đinh Mùi (1727) đời Lê Dụ Tông, lần đầu tiên triều đình phân tách rõ việc lựa chọn lính và tuyển lính, sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục cho biết: “Phép lựa chọn lính: Chiếu theo số đinh hiện tại, cứ mười người giữ lại một người làm việc, còn thì  thải cho về làng, định rõ lệnh cấm về việc bắt bớ đòi hỏi phiền nhiễu. Phép mộ lính: phàm người nào  thân thể sức vóc khỏe mạnh, tình nguyện đi lính, thì được phép nộp đơn, đợi lệnh xét duyệt, sẽ sung bổ vào đội ngũ, cấp cho ruộng công để làm lương ăn”.

*Thời Lê Dụ Tông trị vì, nước Đại Việt bằng con đường đấu tranh ngoại giao kiên trì, khôn khéo đã đòi lại được vùng đất Tụ Long thuộc xứ Tuyên Quang rộng tới 40 dặm bị quân Thanh xâm lấn. Cuối cùng, vào năm Mậu Thân (1728) vua Ung Chính đã phải hạ lệnh cho tổng đốc Vân-Quý (Vân Nam, Quý Châu) trả lại đất. Tháng 6 năm đó, Lê Dụ Tông sai quan quân đến lập giới mốc và phòng giữ biên giới

* Lê Dụ Tông là vị vua cuối cùng cho tổ  chức khoa thi Đông Các, khoa thi này diễn ra năm Mậu Thân (1728). Đông Các là khoa thi tuyển những người làm công việc chuyên biệt nhất được tổ chức lần đầu vào năm Kỷ Hợi (1659) đời Lê Thần Tông, sau đó còn tổ chức dưới đời Lê Hy Tông, Lê Dụ Tông. Những người đỗ đạt được bổ làm Đông các, Đông các đại học sĩ, Hiệu thư chuyên làm nhiệm vụ kiểm tra, xem xét lại, sửa chữa các bài chế, cáo, văn thư và phụ trách việc tuyển chọn nhân sự ở triều đình.

* Tháng 4 năm Kỷ Dậu (1729) Trịnh Cương “bắt ép nhà vua truyền ngôi cho thái tử Duy Phường. Duy Phường, cháu ngoại Trịnh Cương, lập làm thái tử muốn để nối ngôi. Lúc ấy nhà vua lui ra ở điện Kiền Thọ, để truyền ngôi cho Duy Phường. Đấy là sợ chúa Trịnh bức bách” (Khâm định Việt sử thông giám cương mục). Triều Hậu Lê chỉ có bốn người làm vua một thời gian rồi nhường ngôi để làm Thái thượng hoàng là Lê Thần Tông, Lê Hy Tông, Lê Dụ Tông và Lê Ý Tông.

* Lê Dụ Tông là vị hoàng đế bị ép phải nhường ngôi lên làm Thái Thượng hoàng, vì thế tâm trạng uất ức sinh bệnh mà mất. Sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục viết: “Tân Hợi, năm thứ 3 (1731). Tháng giêng, mùa xuân. Thái thượng hoàng mất, dâng tôn hiệu là Hòa hoàng đế, miếu hiệu Dụ Tông. Từ khi lui ra ở điện Kiền Thọ, thượng hoàng thường uất ức không vui. Đến nay mất. Thượng hoàng ở ngôi 25 năm, nhường ngôi 2 năm, hưởng thọ 52 tuổi”.  

Lê Thái Dũng
Theo Bee

.

....Chia sẽ bài viết qua: StumpleUpon Ma.gnolia DiggIt! Del.icio.us Blinklist Yahoo Furl Technorati Simpy Spurl Reddit Google

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...

..Bản In ..Quay về ..Đặt làm trang chủ ..Lên đầu trang

Bài viết chưa có nhận xét nào

Viết comment trên Form chính

Đăng nhận xét

» Các bài comment phải nghiêm túc, không dung tục, không spam.
» Nội dung phải liên quan tới chủ đề bài viết.
» Hãy để lại tên của bạn khi bạn post bài comment, để mình có thể dễ dàng trả lời comment của bạn khi cần.
» HTML Tag comment chấp nhận các thẻ in nghiêng, in đậm và liên kết
» Sử dụng Bộ Gõ Tiếng Việt Online này nếu máy chưa có sẵn bộ gõ
» Click vào đây để sừ dụng nhiều Emoticons hơn nữa
[▼/▲] More Emoticons
:)) ;)) ;;) :D ;) :p :(( :) :( :X =(( :-o :-/ :-* :| 8-} :)] ~x( :-t b-( :-L x( =))

Tuổi Teen

Tin tức mới


    Hà Nội

    Đà Nẵng

    TP Hồ Chí Minh
    1 =
    1 =
    đ/lượng
    Kết Quả Xổ Số
    Lịch Phát Sóng
    Gmail - Yahoo