Từ năm 2001, "Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010" đã được Thủ tướng Chính phủ quyết định triển khai. Năm 2007, Đề án đơn giản hóa thủ tục hành chính trên các lĩnh vực quản lý nhà nước giai đoạn 2007-2010 (gọi tắt là đề án 30) cũng được thực hiện. Thế nhưng, cho đến nay, theo nhận xét của Kỳ họp thứ 8 Quốc hội Khóa XII (tháng 11 năm 2010), công cuộc cải cách hành chính triển khai còn chậm, chưa đạt yêu cầu, vẫn còn nhiều thủ tục bất cập, chồng chéo, không hợp lý; công chức giải quyết công việc chậm trễ, cửa quyền, sách nhiễu, tiêu cực, làm tăng thêm chi phí, gây chậm trễ hoặc mất cơ hội kinh doanh, giảm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Qua thực tế, có thể nêu lên một số vấn đề như sau.
Chức năng của Nhà nước
Nội dung của công cuộc cải cách hành chính mà Chính phủ đề ra bao gồm cải cách thể chế, cải cách bộ máy và chế độ công vụ; xây dựng đội ngũ công chức; và cải cách tài chính công.
Tuy vậy thực tế cho thấy cái gốc của mọi cuộc cải cách chính là cải cách thể chế (thể chế chính trị, thể chế kinh tế, thể chế hành chính...); thể chế quyết định các quy tắc tạo thành "luật chơi" trong các lĩnh vực, quyết định các chủ thể tham gia luật chơi và cơ chế thực thi các luật chơi (trong đó có các thủ tục hành chính).
Đối với các nền kinh tế chuyển đổi như nước ta, việc hình thành thể chế kinh tế phù hợp với đặc điểm nước ta và thông lệ quốc tế là hết sức khó khăn, phức tạp vì đòi hỏi trước hết sự đổi mới quyết liệt về tư duy.
Thực tế cho thấy, nguyên nhân chủ yếu dẫn đến những chậm trễ trong việc cải cách hành chính là do chưa phân biệt được rõ ràng, dứt khoát hai loại quan hệ: đó là quan hệ giữa sự lãnh đạo của Đảng với vai trò quản lý của Nhà nước; và quan hệ giữa vai trò quản lý của Nhà nước với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Đây là những vấn đề nhạy cảm về quan điểm song lại rất cần thiết làm rõ để tạo nền tảng cho các quyết định về thể chế; mặc dù trên văn bản, nghị quyết, vấn đề này đã được nhắc lại nhiều lần, nhưng vẫn chưa được thể hiện trong cuộc sống.
Chúng ta khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng; điều cần làm rõ hơn nữa là vai trò ấy được thực thi với những nội dung cụ thể như thế nào, bằng biện pháp gì, phương thức lãnh đạo của Đảng cần được đổi mới ra sao cho phù hợp với yêu cầu của kinh tế thị trường, v.v... Chính vì chưa xác định rõ những nội dung nói trên, đã dẫn đến có những trường hợp cấp ủy Đảng địa phương bao biện công việc của chính quyền, ra quyết định đối với những vấn đề cụ thể thuộc thẩm quyền của chính quyền, nhưng lại không chịu trách nhiệm về quyết định ấy. Xác định rõ và thực hiện tốt vai trò lãnh đạo của Đảng về đường lối, chính sách, chiến lược phát triển... chính là để nâng cao uy tín của Đảng, đồng thời cũng là nhằm nâng cao trách nhiệm và hiệu quả quản lý của Nhà nước.
Vai trò của Nhà nước trong kinh tế thị trường là hết sức cần thiết. Cần từ thực tế mà rút kinh nghiệm, tiếp tục xác định rõ thêm chức năng quản lý của Nhà nước tập trung vào việc xây dựng, ban hành thể chế, kế hoạch, chính sách quản lý vĩ mô đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, chỉ đạo và kiểm tra thực hiện. Việc sử dụng các biện pháp quản lý cũng rất cần linh hoạt; lúc nào thì dùng biện pháp hành chính, lúc nào thì dùng biện pháp kinh tế, để tránh những trường hợp cơ quan nhà nước can thiệp không đúng thẩm quyền vào những hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Cần xác định dứt khoát những việc mà Nhà nước nhất thiết phải làm và những việc có thể để cho thị trường tự điều tiết hoặc chuyển giao cho các tổ chức xã hội dân sự thực hiện. Cũng cần công bố công khai, minh bạch những biện pháp ấy, thực hiện trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước, khắc phục tình trạng người có quyền lực trong tay dễ sử dụng quyền lực mưu cầu những lợi ích không chính đáng.
Từ kinh nghiệm của những năm đổi mới, có thể thấy trong các chức năng của Nhà nước trong kinh tế thị trường, việc nghiên cứu xây dựng và ban hành cơ chế, chính sách quản lý có tầm quan trọng hàng đầu, nhưng cũng rất khó khăn. Chúng ta đã làm được nhiều việc, song đến nay, hệ thống các yếu tố của kinh tế thị trường vẫn chưa hoàn chỉnh, lại còn những biểu hiện của cơ chế xin - cho, vì lợi ích cục bộ, địa phương.
Nhà nước vẫn rất cần tiếp tục hoàn chỉnh hệ thống cơ chế, chính sách quản lý doanh nghiệp, nhất là bảo đảm môi trường kinh doanh bình đẳng của các loại doanh nghiệp, đồng thời, đó là việc thực thi các cơ chế, chính sách ấy thật nghiêm túc, giảm phiền hà cho doanh nghiệp.
Yếu tố con người công chức
Trong cải cách hành chính nhà nước, yếu tố con người công chức được coi là một yếu tố quyết định, song trên thực tế, nhiều vấn đề liên quan đến công chức, như việc đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, đãi ngộ, v.v... vẫn chưa thực sự được coi trọng.
Trước hết, việc xác định "ai là công chức" có ý nghĩa rất lớn trong việc củng cố bộ máy hành chính nhà nước. Cần tách những người không phải là công chức ra khỏi danh sách công chức, đó là những người hoạt động trong các tổ chức sự nghiệp, những người hoạt động trong các đoàn thể chính trị, tổ chức xã hội lâu nay vẫn được coi là công chức.
Việc tách bạch này không làm giảm vị trí, vai trò của các đoàn thể hoặc tổ chức này, mà chính là nhằm nhấn mạnh và đề cao chức năng chính trị, chức năng xã hội của họ; đồng thời, cũng là một biện pháp quan trọng nhằm khắc phục tình trạng "hành chính hóa", "công chức hóa" hoạt động của các đoàn thể hoặc tổ chức đó. Việc xác định này cũng là cơ sở để tổ chức bộ máy quản lý nhà nước tinh gọn, chức trách rõ ràng, làm việc khoa học, có hiệu quả.
Yêu cầu bức thiết hiện nay của công cuộc phát triển đất nước là bộ máy nhà nước phải bao gồm những công chức có trình độ năng lực hoạch định và thực thi hệ thống thể chế chính sách, bảo đảm cho hệ thống thể chế, chính sách sát hợp với thực tế Việt Nam, đáp ứng trúng những nguyện vọng của người dân và doanh nghiệp, đưa đến những kết quả thực tế trong cuộc sống.
Có thể nói công chức thực sự là những "chiến sĩ cận vệ" bảo vệ chế độ, vì vậy họ phải luôn luôn được nâng cao về kỹ năng nghề nghiệp và bồi dưỡng về phẩm chất, đạo đức. Nếu không có những người như thế, để "quan trí" thấp hơn "dân trí", thì không thể nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy như chúng ta mong muốn.
Để đáp ứng yêu cầu này, còn nhiều việc phải làm, như: xác định cơ cấu công chức gắn với chức năng, nhiệm vụ của cơ quan hành chính nhà nước các cấp; xác định rõ tiêu chuẩn và mô tả công việc của từng chức danh, để tránh việc "ngồi nhầm chỗ"; hoàn thiện chế độ tuyển dụng công chức, bảo đảm dân chủ, công khai, chọn đúng người đủ tiêu chuẩn vào bộ máy; thực hiện chế độ khen thưởng nghiêm minh, v.v...
Một vấn đề không kém phần bức thiết, đó là tiền lương của công chức. Đã có nhiều cuộc khảo sát cho thấy, mặc dù đã qua nhiều lần tăng lương tối thiểu nhưng tốc độ tăng lương thường chậm hơn tốc độ lạm phát và hiện vẫn chỉ đáp ứng khoảng 30 -40% nhu cầu đời sống của công chức, chưa kể đến nhu cầu góp phần nuôi con cái.
Tiền lương thấp đã buộc công chức phải xoay xở, có những cách hợp pháp và không ít cách bất hợp pháp để tăng thu nhập (xin xem thêm bài Lương và "lậu" của công chức đã đăng trên Doanh nhân Sài Gòn Cuối tuần số 368 ra ngày 10/9/2010). Tình trạng này đang làm tha hóa đội ngũ công chức, nhưng nghiêm trọng hơn, là làm giảm sự tín nhiệm của dân và doanh nghiệp đối với bộ máy nhà nước.
Để thúc đẩy cải cách hành chính, đã đến lúc phải cải cách cơ bản chế độ tiền lương công chức, dứt khoát đặt vấn đề tiền lương là giá cả của sức lao động, coi trả lương đúng mức cho công chức là đầu tư cho phát triển. Phải cơ cấu lại các khoản chi của ngân sách nhà nước, không thể vì lý do ngân sách nhà nước hạn hẹp mà xem nhẹ việc trả lương cho công chức một cách đúng đắn, trong khi ngân sách vẫn đầu tư vào những công trình kém hiệu quả.
Nếu chúng ta công nhận sức lao động là hàng hóa (một loại hàng hóa đặc biệt) thì không thể không trả giá cao cho những hàng hóa có chất lượng cao theo quy luật của thị trường lao động, mà ở đây là đội ngũ trong bộ máy hành chính nhà nước.
Tiền lương phải là một động lực chủ yếu để công chức gắn bó với cơ quan nhà nước, tận tụy với công vụ. Chính những chính sách thiếu tính cạnh tranh trong hệ thống chế độ đối với công chức (trong đó có tiền lương) đã là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến bộ máy nhà nước không thu hút được người tài và một số công chức có trình độ đã rời bỏ cơ quan nhà nước sang làm việc ở lĩnh vực ngoài nhà nước; tình hình này có thể làm giảm chất lượng của bộ máy nhà nước.
Theo Doanh nhân Sài Gòn Cuối tuần